Cao Bằng: Bất cập trong quản lý, khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng

 khaithac
Khai thác, chế biến đá xây dựng tại mỏ đá Thôm Bốc, xã Trưng Vương (Hòa An)

(DiaChatVietNam.Net) - Những năm qua, công tác quản lý, khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng (VLXD) thông thường như cát, sỏi, đá, sét... tại Cao Bằng đã có một số chuyển biến tích cực. Hoạt động khoáng sản đã đáp ứng phần nào nhu cầu VLXD trên địa bàn, tạo việc làm cho người lao động, đóng góp ngân sách Nhà nước, tuy nhiên vẫn còn một số bất cập cần có biện pháp tháo gỡ.

 

Từ năm 2010, UBND tỉnh Cao Bằng đã giao cho Sở Xây dựng là đơn vị chủ trì phối hợp với các ngành xây dựng quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến sử dụng khoáng sản làm VLXD tỉnh Cao Bằng đến năm 2020. Quy hoạch đã được HĐND tỉnh phê duyệt tại Nghị quyết 19/2010/NQ-HĐND ngày 9/7/2010 và được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 2580/QĐ-UBND ngày 30/12/2010. Sau khi phê duyệt, UBND tỉnh đã loại bỏ 5 điểm khai thác cát ra khỏi quy hoạch do nằm trong khu vực nội thị và 5 mỏ đá do vướng quy hoạch xi măng của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt. Đồng thời điều chỉnh tên điểm mỏ và một số địa danh cho phù hợp.

Vẫn biết rằng việc điều chỉnh bổ sung đối với các quy hoạch là không thể tránh khỏi. Nhưng riêng đối với quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản làm VLXD tỉnh Cao Bằng đến năm 2020 từ khi ra đời đến nay năm nào cũng bị điều chỉnh bổ sung. Năm 2011, đã bổ sung 51 khu vực vào quy hoạch này gồm 25 mỏ đá, 11 khu vực cát sỏi, 2 mỏ sét; loại 9 khu vực ra khỏi quy hoạch gồm 4 mỏ đá, 5 khu vực cát sỏi; sửa tên địa danh với 23 điểm mỏ đã có trong quy hoạch. Năm 2012 tiếp tục bổ sung 10 điểm mỏ gồm 7 mỏ đá, 3 điểm mỏ cát sỏi và loại bỏ 28 điểm mỏ gồm 26 mỏ đá gần đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ, khu dân cư và các tuyến đường liên xã và 2 điểm mỏ cát sỏi lòng sông do ảnh hưởng đến cầu, phai, đập và ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt; sửa đổi tên địa danh 13 điểm mỏ hồm 4 mỏ sét, 5 mỏ cát, 4 mỏ đá. Năm 2013, qua kiểm tra thực địa 4 mỏ đá, tiếp tục đề nghị và được UBND tỉnh chấp nhận bổ sung 2 điểm mỏ đá Lũng Quang, xã Phúc Sen và Mỏ đá Khu Diều Phon, xã Quảng Hưng (Quảng Uyên) vào quy hoạch. Từ nay đến cuối năm, 2 điểm mỏ đá còn lại sẽ tiếp tục trình xin bổ sung vào quy hoạch và các mỏ đá khác nếu đủ điều kiện.

Qua trên thấy chất lượng quy hoạch như thế nào chắc ai cũng hiểu. Chắc chắn, thời gian tới việc điều chỉnh bổ sung quy hoạch sẽ tiếp tục xảy ra khi riêng trên địa bàn huyện Nguyên Bình chúng tôi đã thấy 2 điểm mỏ đang khai thác ở đây không đủ điều kiện phải loại khỏi quy hoạch gồm Mỏ đá Nà Bao, xã Lang Môn quá gần quốc lộ 34 và mỏ đá Trung Làng, xã Thái Học gần đường liên huyện sang Thông Nông và ngay sát nhà dân.

Một vấn đề khác là hiện giá vật liệu trên địa bàn tỉnh thuộc diện cao nhất khu vực. Nếu như giá cát sỏi cao là do nguồn cung hạn chế, các điểm mỏ trên địa bàn ít, trữ lượng thấp thì nghịch lý ở đây là Cao Bằng vốn rất phong phú về đá vôi nhưng giá đá xây dựng lại cao ngất ngưởng mà cũng không phải có tiền mà mua được (nếu đúng vào mùa xây dựng). Trong năm 2013, tính đến tháng 9 Sở Tài nguyên và Môi trường đã cấp 36 giấy phép thăm dò và cấp 26 giấy phép khai thác khoáng sản làm VLXD thông thường với tổng công suất 331.100 m3/năm; cấp 13 phiếu đăng ký khu vực khai thác khoáng sản làm VLXD phục vụ công trình với tổng công suất khai thác 117.700 m3/năm. Công suất cấp phép khai thác lớn như vậy nhưng theo khảo sát của chúng tôi, hiện giá đá xây dựng 1 - 2 bán tại mỏ Thôm Bốc, xã Trưng Vương (Hòa An) (chưa có công vận chuyển)  là 150 nghìn đồng/m3; đá hộc giá 100 nghìn đồng/m3. Giá bán đá 1 -2 ở mỏ Trung Làng, xã Thái Học (Nguyên Bình) còn lên đến 170 nghìn đồng/m3.

Nguyên nhân chủ yếu là đa số các chủ mỏ đá chỉ xin cấp phép với công suất vừa và nhỏ (dưới 40.000 m3/năm) trong khi lại chưa thực sự có năng lực tài chính đầu tư trang bị máy móc, thiết bị, hạ tầng mỏ để hoạt động đạt công suất cấp phép dẫn tới tăng giá thành sản xuất, không đáp ứng được nhu cầu thị trường lúc cao điểm, tạo nên sự khan hiếm VLXD trên địa bàn.

Ngoài ra, việc đóng góp cho ngân sách của các doanh nghiệp khai thác khoáng sản làm VLXD thông thường cũng hạn chế. Theo báo cáo của huyện Nguyên Bình, từ năm 2011 đến hết tháng 9/2013, 9/15 đơn vị đang khai thác đã nộp thuế khoảng 2,4 tỷ đồng. Giá bán cao là vậy nhưng các đơn vị lại không thực hiện nộp thuế tài nguyên theo giá bán thực tế, chỉ nộp theo giá tối thiểu tính thuế tài nguyên do UBND tỉnh ban hành dẫn đến thất thu thuế cho ngân sách.

Việc ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường của các doanh nghiệp cũng chưa nghiêm túc. Từ năm 2011 đến nay theo quy định 103 đơn vị đang hoạt động khoáng sản làm VLXD thông thường phải ký quỹ phụ hồi môi trường gần 1,7 tỷ đồng. Nhưng đến nay chỉ có 76 đơn vị nộp đủ và 5 đơn vị đã thực hiện nghĩa vụ nhưng nộp thiếu (56 triệu đồng) với tổng số tiền gần 1,3 tỷ đồng; Còn 22 đơn vị chưa thực hiện đang nợ 332 triệu đồng. Riêng năm 2013 mới có 6/15 giấy phép mới được cấp đến làm thủ tục kỹ quỹ phục hồi môi trường. Chi cục Bảo vệ môi trường đã thông báo cho 4 đơn vị ký quỹ, có 2 đơn vị đã nộp gần 36 triệu đồng.

Trên đây là một số bất cập trong công tác quản lý, khai thác khoáng sản làm VLXD tại Cao Bằng. Để hoạt động khoáng sản thực sự đi vào nề nếp các ngành chức năng trong tình cần nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác quản lý Nhà nước, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có năng lực đầu tư mở rộng sản xuất theo quy mô công nghiệp để hạ giá thành sản phẩm; tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các doanh nghiệp khai thác trái phép và không tuân thủ đúng các quy định ghi trên giấy phép được cấp.

Theo: Monre.gov.vn