Quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản

05/12/2013 / Tin Địa Chất Trong Nước / Có2594ký tự / Size font Nhỏ Vừa To / Comments Off on Quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản / Lượt xem 13,939 views+
Cục Địa Chất và khoáng sản Việt Nam

(DiaChatVietNam.Net)Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 203/2013/NĐ-CP, ngày 28/11/2013 quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản.

 

Mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản được quy định theo nhóm, loại khoáng sản có giá trị từ 1 - 5%. Trong đó, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản cho vật liệu xây dựng thông thường dùng cho san lấp (đá, cát, đất) là 5%; than bùn và các loại vật liệu xây dựng thông thường còn lại là 4%; cát trắng, sét chịu lửa là 3%; đá ốp lát gốc 1%; khoáng sản vật liệu xây dựng còn lại là 2%; titan sa khoáng ven biển là 3%;  đá vôi, secpentin là 3%; các khoáng sản kim loại còn lại là 2%; nhóm khoáng sản đá quý, đá bán quý là 2%; nhóm khoáng sản nước nóng, nước khoáng và khí COlà 2%. Giá tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản được xác định theo giá tính thuế tài nguyên do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng, công bố và tại thời điểm tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản còn hiệu lực.

khaithac

Ảnh minh hoạ: Đặng Hiếu


Cụ thể, mỗi loại khoáng sản trong một khu vực khai thác khoáng sản chỉ áp dụng một mức giá tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản. Trường hợp trong một khu vực khai thác khoáng sản, sản phẩm sau khai thác có nhiều loại và mỗi loại có mức giá khác nhau, thì áp dụng giá trị trung bình các mức giá. Đối với loại khoáng sản chưa có giá tính thuế tài nguyên hoặc phải điều chỉnh giá tính thuế tài nguyên do không còn phù hợp theo quy định, Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng giá; Sở Tài chính thẩm định, trình UBND cấp tỉnh phê duyệt.

 

Theo Nghị định, phương thức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản được nêu cụ thể như sau:

1) Nộp một lần bằng 100% tổng số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đối với trường hợp thời gian khai thác còn lại trong Giấy phép khai thác hoặc cấp mới bằng hoặc dưới 05 năm. Tổng giá trị tiền cấp quyền khai thác khoáng sản bằng hoặc nhỏ hơn 01 tỷ đồng.

2) Nộp nhiều lần đối với các Giấy phép khai thác khoáng sản cấp trước ngày Nghị định này có hiệu lực, lần đầu thu khi có thông báo của cơ quan có thẩm quyền, các lần sau thu hàng năm liên tục (trước 31/3 các năm tiếp theo) và hoàn thành việc thu trước khi giấy phép hết hạn 5 năm. Đối với các Giấy phép khai thác khoáng sản cấp sau ngày Nghị định này có hiệu lực thì lần đầu thu trước khi cấp Giấy phép khai thác, các lần sau thu hàng năm liên tục và hoàn thành việc thu vào nửa đầu thời hạn cấp phép.

3) Thời điểm nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản chậm nhất lần đầu là 90 ngày tính từ ngày nhận được thông báo của Cục Thuế địa phương; thời điểm các lần sau chậm nhất là 31/3 các năm tiếp theo. Sau các thời điểm này, ngoài số tiền phải nộp theo thông báo, tổ chức, cá nhân còn phải nộp tiền phạt theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

4) Trường hợp trữ lượng khoáng sản được cấp phép lớn, thời gian khai thác còn lại và công suất khai thác trung bình hàng năm không thể hết phần trữ lượng chưa khai thác, tổ chức, cá nhân có thể xin điều chỉnh Giấy phép khai thác về công suất hoặc trữ lượng.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/01/2014. Bãi bỏ Điều 42 Nghị định số 15/2012/NĐ-CP, ngày 09/3/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản./.

Download nghị định tại đây

Theo: Monre.gov.vn

Chức năng bình luận tạm thời không mở.