Barit và Viterit

Liên quan đến

http://diachatvietnam.net/wp-content/uploads/2012/06/barit1.jpg

Barit

 

Barit BaSO4 là sunfat bari, viterit BaCO3 là cacbonat bari, trong thiên nhiên chúng thường đi với nhau. Ở Liên Xô chỉ phát hiện được các mỏ bari, trong quặng của các mỏ này viterit nằm dưới dạng tạp chất với số lượng không đáng kể, trừ các mỏ Copet - Đága, ở đáy hàm lượng viterit đôi chỗ lên tới 40%.

Thành phần khoáng vật và tính chất của các khoáng vật này khác hẳn nhau. Barit tinh khiết về mặt hóa học chứa 65.7% BaO, 34,3% SO3, thực tế nó không hòa tan trong nước, trong axit vô cơ yếu và trong các dung môi hữu cơ. Barit có màu trắng, xám, xanh da trời, vàng, hồng, nâu, đỏ, nâu saamx, tuỳa thao thành phần và số lượng tạp chất, có gặp cả tinh thể không màu trong suốt.

Viterit chứa BaO 77,7 %, CO2 - 22,3%, để phân hủy dưới tác dụng thậm chí của các axit yếu, và tương đối dễ hòa tan trong nước. Màu của viterit thay đổi từ trắng đến vàng. Tỉ trọng của barit sạch và viterit thay đổi từ 4,3 đến 4,6 độ cứng của barit 2,5 đến 3,5 còn viterit có  độ cứng lớn hơn.

Cả hai khoáng vật đều thường đi với thạch anh canxit, sunfua, florit và các khoáng vật khác, hàm lượng của các khoáng vật phụ này trong quặng barit đôi khi tới vài chục phần trăm,

Barit được sử dụng trong các ngành công nghiệp khác nhau. Công nghiệp dầu mỏ là ngành tiêu thự barit lớn nhất, để làm chất tăng nặng dung dịch sét khi khoan các lỗ khoan dầu và khí. Viterit không được dùng làm chất tăng nặng. TRong công nghiệp hóa chất, cả barit và viterit đều được dùng để sản xuất bột kẽm - barit trắng, các laoij muối khác nhau, các chế phẩm barit.

Trong công nghiệp cao su và giầu barit được dùng làm chất độn khi sản xuấ các loại cao su cứng đặc biệt, giấy bìa cứng, trong công nghiệp xây dựng, nó được dùng để lát ốp buồng đặt máy điện quang.

Các kiểu công nghiệp của mỏ và quặng barit và viterit

Dựa vào điều kiện thành tạo, người ta chia các mỏ barit và viterit ra làm bốn kiểu: 1) nhiệt dịch; 2) biến chất trao đổi; 3) trầm tích; 4) phong hóa. Về mặt hình dạng thế nằm thì chúng thường có dạng mạch, dạng ổ, dạng vỉa và sa khoáng.

Theo các tổ hợp khoáng vật mà chia quặng barit ra loại đơn khoáng và phức hợp. Quặng phức hợp lại được phân ra: quặng sunfua barit( chưa sunfua chì kẽm, đôi khi đồng và pirit, thỉnh thoảng có thiwwcs, niken vàng và bạc); canxit barit( chứa tới 75% canxi) ; barit sắt ( chứa manhetit, heemantit, ở các đới trên của mỏ có gowtit và hiđrôgơtit ) và florit - barit ( ngoài barit và florit, thường còn chưa thạch anh và canxit, đôi khi còn chứa sunfua chì, kẽm, đồng và thủy ngân nằm dưới dạng các tạp chất nhỏ).

Về mặt thực tế. các mỏ florit- barit và sunfua barit, các mỏ mạc đơn khoáng nhiệt dịch có giá trị nhất. Mọt số mỏ vỉa biến chất trao đổi và sa khoáng eluvi cũng có giá trị công nghiệp. Các mỏ trầm tích tức là hóa học điển hình của các bồn nước gặp một cách thưa thớt và không đóng vai trò quan trọng.

Thường thường nhiều loại quặng barit có chứa các khoáng sản có ích khác ( florit, galenit, đồng, vàng với hàm lượng công nghiệp), bởi vậy chúng được sử dụng tổng hợp,

Tiền đề địa chất thuận lợi để tìm kiếm mỏ barit và viterit

Đối với mỏ barit nhiệt dịch, có các tiền đề địa chất thuận lợi sau đây:

1. Trong vùng có phát triển các mỏ nhiệt dịch sau macma: canxit, florit, các mach thạch anh, v.v.v. mà điều kiện thành tạo giống như các mỏ barit.

2. Có biểu hiện khoáng hóa đa kim và đồng

3. Có phát triển các phá hủy đứt gãy mạnh, các đới dăm kết vò nhàu mang theo các dấu vết biến đổi nhiệt dịch, có sảy ra các quá trình thạch anh hóa, xerixit hóa, caolinit hóa và florit hóa.

4. Có biểu hiện quá trình barit hóa( có các mỏ và các đới bị khoáng hóa barit).

5 Tìm thấy các mảnh vụn barit và viterit.

Tìm kiếm mỏ barit cũng giống nhưu tìm kiếm mỏ florit vì chúng có hoàn cảnh địa chất giống như các mỏ florit vậy,

 

Biên soạn bởi: Geology  - Hãy ghi rõ nguồn khi sao chép từ website này. Cảm ơn!

Bình luận

:?: :razz: :sad: :evil: :!: :smile: :oops: :grin: :eek: :shock: :???: :cool: :lol: :mad: :twisted: :roll: :wink: :idea: :arrow: :neutral: :cry: :mrgreen: