Quản lý bền vững và khắc phục đất than bùn đang bị thu hẹp

(DiaChatVietNam.Net)  Tình trạng diện tích đất than bùn ở Việt Nam hiện giảm sút đáng kể, nguyên nhân là do cháy rừng và nạn khai thác cạn kiệt các nguồn tài nguyên, ngoài ra việc thoát thủy phục vụ cho nông lâm nghiệp cũng làm ảnh hưởng đến diện tích đất than bùn.

Các nhà khoa học cho rằng, nguyên nhân diện tích đất than bùn ở Việt Nam giảm là do hầu hết bị chuyển đổi cho mục đích sử dụng khác, chỉ còn những vùng đất than bùn khá lớn được duy trì và bảo tồn ở các Vườn Quốc gia U Minh Thượng và U Minh Hạ. Phần còn lại đã được chuyển mục đích sử dụng chủ yếu cho phát triển nông nghiệp và chế biến phân bón.

Ở Việt Nam diện tích đất than bùn chỉ chiếm 36.000 ha và phân bố rải rác nhiều nơi trên cả nước, nhưng chủ yếu nằm ở Đồng bằng sông Cửu Long (trong rừng U Minh, thuộc các tỉnh Cà Mau và Kiên Giang) với diện tích khoảng 24.000 ha, trong đó một diện tích lớn được chọn là các khu bảo tồn, đó là các Vườn Quốc Gia U Minh Thượng và U Minh Hạ.

Những vùng đất than bùn với giá trị và chức năng sinh học, cung cấp gỗ, lâm sản ngoài gỗ và sinh cảnh sông cho động vật. Đất than bùn có vai trò quan trọng trong việc giảm đỉnh lũ và duy trì dòng chảy cơ bản của các dòng sông trong suốt mùa khô. Than bùn đóng vai trò như miếng bọt biển hút nước trong mùa mưa và từ từ nhả nước trong mùa khô. Bởi vậy, vùng đất than bùn nguyên sinh có khả năng rất lớn trong việc ngăn chặn sự mất đi sự sống và thiệt hại đối với cơ sở hạ tầng bằng cách giảm tình trạng ngập lụt cuối nguồn của đất than bùn. Tương tự, việc duy trì những dòng chảy tối thiểu ở các con sống trong mùa khô có thể duy trì các công trình thủy lợi cuối nguồn và ngăn ngừa nước mặn xâm nhập.

Ngoài ra, đất than bùn có chức năng vô dùng quan trọng đó là kiểm soát khí hậu toàn cầu. Đất than bùn là nơi tích trữ cacbon có tầm quan trọng toàn cầu, mặc dù diện tích che phủ chỉ chiếm 3%, nhưng đất than bùn trữ khoảng 20 - 35% lượng cacbon của trái đất. Đất than bùn nhiệt đới chứa từ 2 - 6.000 tấn cacbon/ha so với mức bình quân 270 tấn/ha của những hệ sinh thái rừng của thế giới.

Để quản lý, bảo vệ được nguồn tài nguyên than bùn đồng thời định hướng khai thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, phát triển bền vững kinh tế - xã hội trước mắt và lâu dài cần tập trung vào các giải pháp như: Cần có chính sách khai thác, sử dụng hợp lý và bảo vệ than bùn. Đầu tư, thăm dò, đánh giá, quy hoạch để đảm bảo khai thác khoáng sản hợp lý, trong đó có than bùn. áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới trong lĩnh vực địa chất, thăm dò khoáng sản nhằm có những đánh giá chính xác. Trong quá trình thăm dò và khai thác cần có các chính sách bảo vệ môi trường và phải được cấp phép bởi các cơ quan chức năng, trong đó có báo cáo đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường và khôi phục đất đai, cảnh quan sau khi khai thác...

Hạn chế tối đa việc sử dụng than bùn làm chất đốt vì nhiệt lượng tỏa ra không cao, chất bốc lên khi đốt gây độc hại cho môi trường. Khuyến khích sử dụng than bùn làm phân vi sinh. Một sản phẩm khác có thể tạo ra từ than bùn đó là than hoạt tính để sử dụng trong nhiều lĩnh vực, trong đó có xử lý nước sinh hoạt. Công nghệ này đã được sử dụng ở nhiều vùng khác nhau. Ngoài ra, than bùn còn có thể sử dụng cho một số mục đích khác như: làm men trong việc trồng nấm ăn, phụ gia trong sản xuất ắc quy, phụ gia cho sản xuất véc ni đánh bóng chịu nhiệt cho đồ gỗ, điều chế than hoạt tính phục vụ cho công nghiệp thực phẩm.

Theo: Monre.gov.vn