Bạn đang ở: Trang chủ > Hình Ảnh & Video Địa Chất > Bài viết

Tập trung đầu tư nguồn lực cho công tác điều tra, thăm dò khoáng sản

17/10/2015 / Hình Ảnh & Video Địa Chất / Có7921ký tự / Size font Nhỏ Vừa To / Comments Off on Tập trung đầu tư nguồn lực cho công tác điều tra, thăm dò khoáng sản / Lượt xem 12,673 views+
Cục Địa Chất và khoáng sản Việt Nam

(DiaChatVietNam.Net) - Công tác điều tra, thăm dò khoáng sản được bắt đầu thực hiện từ sau năm 1955. Sau năm 1996, Nhà nước chỉ tập trung đầu tư cho công tác điều tra. Tính đến nay Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam đã phát hiện và điều tra, thăm dò gần 50 loại khoáng sản (không tính khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường) với trên 5000 mỏ và điểm quặng trên toàn lãnh thổ. Các loại khoáng sản, bao gồm: titan, bauxit, than, đất hiếm, apatit và phốt phorit, cát trắng, đá hoa trắng, đá ốp lát, đá vôi xi măng, felspat, urani, sắt, mangan, thiếc, đồng, chì-kẽm, kaolin … Trong đó, khoảng 10 loại khoáng sản có quy mô lớn, rất lớn. Các khoáng sản thuộc vùng biển Việt Nam, ngoài dầu khí, hầu như chưa tiến hành công tác điều tra, thăm dò.

Titan: trước năm 2008, quặng sa khoáng titan được phát hiện dọc bờ biển từ Móng Cái đến Vũng Tàu. Tổng tài nguyên quặng sa khoáng titan đã được điều tra, đánh giá gần 30 triệu tấn. Quặng titan gốc đã được phát hiện và đánh giá ở vùng Cây Châm (Thái Nguyên) có trữ lượng khoảng 4,5 triệu tấn. Tổng tài nguyên, trữ lượng khoảng 34 triệu tấn.

Năm 2008, Ông Nguyễn Văn Thuấn (Liên đoàn trưởng Liên đoàn Địa chất Trung Trung Bộ) nhận định tầng cát đỏ, phân bố rộng lớn ở ven biển Bình Thuận, Ninh Thuận, Bà Rịa-Vũng Tàu, chứa titan-zircon công nghiệp và đã kiến nghị Nhà nước đầu tư điều tra quy mô lớn. Đầu năm 2010, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam đã công bố kết quả điều tra: trong tầng cát đỏ ven biển vùng Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa-Vũng Tàu có tổng tài nguyên hơn 600 triệu tấn titan-zircon công nghiệp. Tổng trữ lượng và tài nguyên titan-zircon trên cả nước khoảng 660 triệu tấn (chủ yếu là ilmenit và zircon). Với cơ sở tài liệu này, đủ để xây dựng ngành công nghiệp titan-zircon lâu dài ở Việt Nam; đưa việt Nam là một trong những Quốc gia có tài nguyên titan- zircon hàng đầu thế giới.

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải kiểm tra thực địa đề án điều tra đánh giá titan-zircon trong tầng cát đỏ; Bình Thuận, năm 2010.

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải kiểm tra thực địa đề án điều tra đánh giá titan-zircon trong tầng cát đỏ; Bình Thuận, năm 2010.

Bauxit: Trước năm 2010, vùng mỏ bauxit laterit ở Nam Việt Nam được đánh giá là một trong sáu vùng quặng bauxit lớn của thế giới với tổng tài nguyên 5,4 tỉ tấn; trong đó, trữ lượng chắc chắn đạt 0,4 tỷ tấn. Điều kiện khai thác thuận lợi, quặng thích hợp cho luyện nhôm theo phương pháp Baye. Hiện nay, căn cứ vào kết quả điều tra tổng thể, từ năm 2011­ đến 2014 của Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam và kết quả thăm dò của Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam, tổng tài nguyên, trữ lượng bauxit ở Việt Nam khoảng 11 tỷ tấn, trong đó, trữ lượng đạt hơn 4,0 tỷ tấn, chủ yếu là bauxit laterit ở Tây Nguyên. Quặng bauxit laterit có chất lượng tốt, phần lớn lộ thiên, khai thác thuận lợi. Đây cũng là loại khoáng sản của Việt Nam nằm trong top đầu thế giới.

Chuyên gia Anh giám sát việc thăm dò bauxit ở Bình Phước; năm 2012

Than: Tài nguyên khoáng sản năng lượng than đã được biết đến từ lâu ở nước ta. Tuy nhiên, mãi tới đầu thế kỷ 19, một số mỏ ở Đông Triều, Mạo Khê mới bắt đầu được khai thác. Đến cuối năm 1906, các điểm than ở thượng du Bắc kỳ đều đã được phát hiện và tổ chức khai thác. Sản lượng khai thác than tăng từ 520.000 tấn/năm vào năm 1919 đến 1.335.000 tấn/năm vào năm 1929 và đạt 2.615.000 tấn/năm vào năm 1939. Sau ngày hoà bình lập lại ở miền Bắc, năm 1954, công tác tìm kiếm thăm dò than được tập trung trước hết ở bể than Quảng Ninh, nơi có trữ lượng than quan trọng nhất ở nước ta. Tại đây đã thăm dò lại để khôi phục khai thác các mỏ than cũ; đồng thời, tìm kiếm đánh giá và chuyển sang thăm dò hàng loạt mỏ than mới có trữ lượng lớn để phục vụ thiết kế mở rộng khai thác.

Cán bộ Liên đoàn Địa chất số 9 - Than và chuyên gia Liên Xô; Quảng Ninh, năm 1971

 

Khoan sâu 1200m điều tra than ở Tiền Hải, tỉnh Thái Bình; năm 2013

 

 

Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang và Lãnh đạo UBND tỉnh Thái Bình kiểm tra thực địa đề án điều tra đánh giá tổng thể tiềm năng than phần đất liền bể Sông Hồng; Tiền Hải, Thái Bình; năm 2013.

Trong những năm cuối thế kỉ 20, trong quá trình tìm kiếm dầu khí, đã phát hiện than nâu ở phân bố ở các tỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng. Than có chất lượng tốt, kết quả điều tra dự báo tổng tài nguyên khoảng 200 tỉ tấn. Hơn nữa, theo cấu trúc địa chất và dấu hiệu khoan dầu khí, các vỉa than còn kéo dài ra ngoài khơi thềm lục địa với diện tích rất lớn. Từ năm 2012 đến nay, Tổng cục Địa chất Và Khoáng sản Việt Nam triển khai điều tra chi tiết than nâu ở sát mép nước biển, ngoài đê chắn sóng, thuộc khu vực Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Tại đây, trong diện tích khoảng 20 km2 đã xác định có 14 vỉa than, dày 1,5 - 8m, sâu 300-1200m; tài nguyên dự báo khoảng 2 tỉ tấn. Than chất lượng rất tốt. Hiện tại đã cấp phép thăm dò than tại đây để nghiên cứu, đề xuất phương pháp khai thác khả thi.

Đất hiếm: Quặng đất hiếm phân bố tập trung ở các mỏ Bắc Nậm Xe, Nam Nậm Xe, Đông Pao (Lai Châu), Mường Hum (Lao Cai), Yên Phú (Yên Bái). Ngoài ra, trong các mỏ sa khoáng titan ven biển đều chứa monazit, xenotim với hàm lượng đáng kể. Trong các mỏ đất hiếm còn có quặng fluorit và barit đi kèm với số lượng lớn.. Ngoài ra, đất hiếm chứa trong khoáng vật monazit có thể thu hồi được khi khai thác quặng titan trong sa khoáng ven biển. Với tài nguyên, trữ lượng đã được điều tra đánh giá, thăm dò có thể nói Việt Nam là một trong những nước có tài nguyên đất hiếm rất lớn, hầu hết các mỏ đất hiếm có điều kiện khai thác thuận lợi. Tổng trữ lượng và tài nguyên khoảng 9,5 triệu tấn tổng oxyt đất hiếm (TR2O3) tập trung chủ yếu ở tỉnh Lai Châu.

Apatit và phosphorit: Cho đến nay đã xác nhận được 17 mỏ apatit. Các mỏ tập trung chủ yếu ở tỉnh Lào Cai, phân bố dọc bờ phải Sông Hồng, từ Bát Xát đến huyện Văn Bàn. Đối với quặng phosphorit, đã xác nhận được 73 mỏ, điểm quặng trên phạm vi cả nước, phân bố tập trung chủ yếu ở khu vực phía Bắc và Bắc Trung Bộ. Hầu hết các mỏ apatit đều có quy mô trung bình đến lớn. Trữ lượng và tài nguyên dự báo 17 mỏ apatit, tính đến độ sâu -900m, khoảng 2,4 tỷ tấn.

Cát trắng các mỏ cát trắng phân bố khá phong phú trên 9 tỉnh ven bờ biển Bắc Bộ và Trung Bộ. Tài nguyên cát trắng ở ven biển Việt Nam là rất lớn song mức độ điều tra, khai thác và sử dụng còn hạn chế. Việc khai thác, chế biến mới chỉ ở quy mô nhỏ, chưa tương xứng với tài nguyên hiện có của các mỏ cát thủy tinh. Cát có chất lượng cao, điều kiện khai thác thuận lợi, phần lớn phân bố tập trung trong vùng đông dân cư, vùng có tiềm năng phát triển kinh tế. Do vậy, đối với cát trắng cần được ưu tiên tập trung đầu tư đánh giá đầy đủ để định hướng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội bền vững phù hợp tiềm năng kinh tế từng vùng. Tổng trữ lượng 24 mỏ đã thăm dò là 194 triệu tấn, tài nguyên dự báo khoảng 03 tỉ tấn.

Cán bộ Đoàn 1 Apatit Lào Cai và chuyên gia Liên Xô; Lào Cai, năm 1956

Đá hoa trắng là một loại đá vôi tinh khiết, bị biến chất, có mầu trắng, hàm lượng CaO rất cao (trên 53%); dùng làm đá ốp lát trắng và bột carbonat siêu mịn. Đá hoa trắng phân bố ở 11 tỉnh miền Bắc, nhưng tập trung ở tỉnh Nghệ An và Yên Bái. Đến nay đã có trên 70 mỏ đã, đang thăm dò khai thác. Đã xác định khoảng 200 triệu m3 đá hoa trắng đủ điều kiện sản xuất đá ốp lát và 1,2 tỷ tấn đủ chất lượng sản xuất bột carbonat siêu mịn. Công tác đánh giá tổng thể quy luật phân bố, chất lượng và tiềm năng đá hoa trắng trên địa bàn 11 tỉnh đang được bắt đầu để phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế xã hội.

Đá vôi chất lượng cao (trừ đá hoa trắng): Đá vôi có đáp ứng yêu cầu sản xuất xi măng, vôi công nghiệp, xô đa ... gọi chung là đá vôi có chất lượng cao. Đá vôi chất lượng cao phân bố trên địa bàn 29 tỉnh, tập trung chủ yếu ở khu vực miền Bắc và Bắc Trung bộ. Khu vực Trung Bộ, Tây Nguyên và vùng Nam Bộ cũng có đá vôi làm nguyên liệu xi măng, vôi công nghiệp nhưng trữ lượng hạn chế. Đến nay, đã có trên 80 mỏ đá vôi làm nguyên liệu xi măng được điều tra đánh giá và thăm dò ở các mức độ khác nhau với tổng trữ lượng đạt khoảng 8 tỷ tấn. Tài nguyên dự báo của đá vôi có chất lượng cao của Việt Nam còn rất lớn, đáp ứng nhu cầu phát triển ngành công nghiệp sản xuất xi măng quy mô lớn, lâu dài.

Đá ốp lát: các loại đá magma, biến chất, trầm tích; tùy theo độ nguyên khối, màu sắc, tính chất cơ lý, nhu cầu của thị trường và giá thành khai thác, chế biến; đều có thể làm đá ôp lát. Việt Nam có đường bờ biển dài thuận tiện cho việc vận chuyển, nên tiềm năng đá ốp lát là rất lớn. Công tác điều tra, thăm dò được tiến hành với khối lượng nhỏ, theo nhu cầu thị trường. Tổng trữ lượng và tài nguyên đã điều tra, thăm dò là 1.600 triệu m3.

Felspat: nguyên liệu felspat có chất lượng khá tốt, đáp ứng cho sản xuất gốm sứ cao cấp. Kết quả điều tra đánh giá mấy năm gần đây cho thấy Việt Nam có tiềm năng lớn về nguyên liệu felspat. Các mỏ felspat phân bố chủ yếu dọc tả ngạn sông Hồng, khu vực Đồng Hới, Đăk Lăk, Quảng Nam.v.v..Tổng tài nguyên và trữ lượng đã điều tra, thăm dò của 45 mỏ khoảng 40 triệu tấn.

Kaolin: kaolin ở Việt Nam có tiềm năng lớn. Trữ lượng đã thăm dò của trên 100 mỏ là khoảng 330 triệu tấn, đáp ứng nhu cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu.

Urani: khoáng sản urani ở Việt Nam có tiềm năng không lớn; nhưng là loại khoáng sản chiến lược, chủ động nguồn nguyên liệu cho dự án nhà máy điện hạt nhân trong giai đoạn tới. Kết quả các công tác nghiên cứu địa chất và tìm kiếm khoáng sản đã phát hiện urani ở khu vực Tây Bắc, Việt Bắc, Trung Trung Bộ và Tây Nguyên. Đến nay, đã có 06 mỏ urani được đánh giá và thăm dò với; tổng tài nguyên và trữ lượng dự báo khoảng 218.000 tấn U3O8, trong đó trữ lượng là 18.750 tấn U3O8 . Vùng Nông Sơn dự báo khoảng 100.000 tấn U3O8. Với tiềm năng tài nguyên urani hiện có đủ đảm bảo cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy điện hạt nhân sẽ xây dựng theo quy hoạch phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam.

Từ năm 2010 đến nay, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam đã và đang tiến hành thăm dò urani ở Pà Lừa, Quảng Nam. Kết quả thăm dò khả quan, đã đào lò để kiểm tra, lấy mẫu nghiên cứu công nghệ chế" biến và đã sản xuất được “bánh vàng” từ quặng urani.

 Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải tham quan phòng công nghệ chế biến quặng urani tạo “bánh vàng”; Quảng Nam, năm 2012

Chức năng bình luận tạm thời không mở.